Luật sư tại Đà NẵngFeel free to go with the truth

0935 643 666

Luật sư tư vấn 24/7
Trang chủ / FDVN và Pháp luật / Một số vấn đề về chiết khấu thương mại

Một số vấn đề về chiết khấu thương mại

Một số vấn đề về chiết khấu thương mại

 Công ty tôi có ký Hợp đồng với nhà phân phối, trong đó có điều khoản sẽ áp dụng các mức chiết khấu thương mại theo thời gian. Tôi muốn Quý Công ty tư vấn giúp tôi một số vấn đề như sau:

1). Khi thực hiện chiết khấu thương mại thì Công ty tôi có phải đăng ký chương trình khuyến mãi theo quy định của pháp luật không?

2) Công ty tôi có được giảm trừ Doanh thu khi tính Thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa đã thực hiện Chiết khấu thương mại theo Hợp đồng?

3) Việc tính Thuế thu nhập Doanh nghiệp khi thực hiện Chiết khấu thương mại như thế nào?

Mong Quý Công ty sớm phản hồi. Tôi xin cảm ơn!

Cảm ơn Qúy Khách đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (FDVN). Đối với các yêu cầu tư vấn của Qúy Khách, sau khi nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, FDVN có một số trao đổi như sau:

    Thứ nhất, có phải đăng ký chương trình khuyến mại đối với chiết khấu thương mại hay không?

Chiết khấu thương mại được hiểu là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn (Căn cứ mục 03 của Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam chuẩn mực số 14 Doanh thu và thu nhập khác ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC; khoản 1c Điều 81Thông tư 200/2014/TT-BTC, ngày 22/12/2014 Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp).

Theo Công văn số 1868/CT-TTHT về Chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán có hướng dẫn như sau: “Trường hợp Công ty thực hiện chiết khấu thương mại cho khách hàng căn cứ vào doanh số bán hàng đạt mức nhất định của tháng, quý, năm theo hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa 2 bên thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh theo quy định nêu trên. Đối với khách hàng không có hợp đồng bán hàng thì khoản chiết khấu thương mại này phải thực hiện theo đúng pháp luật về thương mại (Chương trình khuyến mãi Công ty phải đăng ký với Sở công Thương hoặc Bộ công Thương).”

Như vậy, trong trường hợp này thì Chiết khấu thương mại có hợp đồng mua bán hàng hóa không thuộc các trường hợp phải đăng ký chương trình khuyến mại.

Thứ hai, đối với việc tính thuế giá trị gia tăng

Căn cứ khoản 22 Điều 7 Mục I chương II Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 Hướng dẫn về thuế Giá trị gia tăng thì:

Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng. Trường hợp việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh thu mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.

Khoản 2.5 Phụ lục 4 Thông tư 39/2014/TT-BTC “Hàng hóa, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng, thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT.

Nếu việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.”

Vì vậy, Đối với các khoản chiết khấu thương mại (chiết khấu, giảm giá dựa trên doanh số bán hàng đạt mức nhất định), Công ty đã thực hiện giảm trừ trực tiếp trên hóa đơn GTGT thì Công ty được giảm trừ doanh thu khi tính thuế GTGT và Công ty phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ chứng minh việc giảm doanh thu và không thu được tiền thực tế đối với các khoản giảm giá này.

Thứ ba, đối với việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Công văn số 1868/CT-TTHT của Cục thuế TP HCM ngày 04/03/2016 có hướng dẫn: “Trường hợp Công ty ký hợp đồng bán hàng cho khách hàng có thỏa thuận chiết khấu thanh toán cho khách hàng nếu thanh toán trước hạn thì Công ty căn cứ vào hợp đồng bán hàng có thỏa thuận chi chiết khấu thanh toán, chứng từ thanh toán tiền chiết khấu để tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.”

Theo Công văn số 1422/CT-TTHT của Cục thuế TP HCM ngày 13/02/2018 cũng có hướng dẫn:

“Tại Điểm 2.5 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:

“2.5. Hàng hóa, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng, thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT.

Nếu việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.”

Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty thực hiện chương trình chiết khấu thương mại cho khách hàng (theo đúng quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại) căn cứ vào doanh số bán hàng đạt mức nhất định theo hợp đồng kinh tế đã ký giữa 2 bên thì Công ty lập hóa đơn theo hướng dẫn tại điểm 2.5 phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC , Công ty kê khai khoản chiết khấu thương mại này vào kỳ thuế tương ứng ngày lập hóa đơn chiết khấu, không thực hiện trích trước chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của FDVN liên quan đến yêu cầu tư vấn của Qúy Khách trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật. Hy vọng ý kiến tư vấn của FDVN sẽ hữu ích cho Qúy Khách.

                                                                      Theo CVPL: Nguyễn Thị Sương  –  Công ty Luật FDVN

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online