Luật sư tại Đà NẵngFeel free to go with the truth

0935 643 666

Luật sư tư vấn 24/7
Trang chủ / Tư vấn pháp luật / Tư vấn / Lỗ hổng trong công chứng đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Lỗ hổng trong công chứng đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Tôi sinh năm 1980. Ngày 10/1/2018 tôi xin được Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận tôi chưa đăng ký kết hôn với ai. Ngày 15/02/2018 tôi đăng ký kết hôn. Ngày 15/03/2018 tôi ký hợp đồng mua đất. Ngày 30/03/2018 tôi bán thửa đất đó cho ông A. Tại các lần mua bán đất nêu trên Công chứng viên yêu cầu tôi chứng minh tình trạng hôn nhân thì tôi đều xuất trình Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp ngày 10/01/2018 nêu trên mà không nói cho công chứng viên biết về việc mình đã đăng ký kết hôn và đều được công chứng viên chấp nhận cho ký kết Hợp đồng mua bán chồng tôi không hề biết tôi có tài sản riêng. Xin thưa Luật sư, việc làm của tôi có vi phạm pháp luật hay không?

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (FDVN). Đối với các yêu cầu tư vấn của bạn, sau khi nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, FDVN có một số trao đổi như sau:

[1]. Quy định pháp luật về tài sản chung vợ chồng và định đoạt tài sản chung vợ chồng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Như vậy, với quy định nêu trên thì quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung của bạn và chồng bạn dù cho bạn có nhận chuyển nhượng một mình mà không có ý kiến của chồng.

Đối với việc sử dụng, định đoạt tài sản chung, tại Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, ngày 31/12/2014 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình:“Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.”

Đồng thời, tại Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về: Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

  1. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
  2. a) Bất động sản;
  3. b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
  4. c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Như vậy việc bạn tự định đoạt tài sản chung là bất động sản trong thời kỳ hôn nhân mà không có sự đồng ý của chồng đã vi phạm chế độ tài sản chung vợ chồng. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, người chồng có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng công chứng vô hiệu theo quy định nêu trên.

[2]. Trách nhiệm của các bên tham gia ký kết Hợp đồng chuyển nhượng

2.1. Trách nhiệm của tổ chức hành nghề công chứng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, ngày 15/11/2015 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch thì:“Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp”

Theo quy định trên thì tại các thời điểm bạn chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng đất công chứng viên không thể biết việc bạn đã đăng ký kết hôn nếu bạn không cung cấp thông tin đó cho họ, hơn nữa giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của bạn còn thời hạn nên công chứng viên không có lỗi trong trường hợp này.

2.2. Trách nhiệm của bạn khi cung cấp hồ sơ sai sự thật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Công chứng 2014 có quy định:

“1. Người yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự.

Trường hợp người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó.

Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó.”

Trong các Hợp đồng công chứng thường sẽ có ràng buộc bạn là người đưa ra các tài liệu chứng cứ và phải chịu trách nhiệm về tính xác thực hợp pháp của các tài liệu chứng cứ đó. Tại thời điểm công chứng bạn được yêu cầu xuất trình các giấy tờ để chứng minh tình trạng hôn nhân của mình, bạn không thông báo cho công chứng viên biết về việc mình đã kết hôn và bạn đã xuất trình Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân dù biết rằng không đúng sự thật khách quan đã làm cho việc chứng nhận Hợp đồng trái với quy định của pháp luật. Như vậy trong trường hợp này bạn là chủ thể đã có lỗi khiến cho giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu, do vậy phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu có).

Trên đây là ý kiến tư vấn của FDVN liên quan đến yêu cầu tư vấn của bạn trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật. Hy vọng ý kiến tư vấn của FDVN sẽ hữu ích cho bạn.

Theo CVPL: Nguyễn Hữu Nghĩa

                                                                                 Công ty Luật FDVN

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online