Luật sư tại Đà NẵngFeel free to go with the truth

0935 643 666

Luật sư tư vấn 24/7
Trang chủ / Tư vấn pháp luật / Tư vấn / Có bị tù khi người bị hại đã rút đơn tố cáo?

Có bị tù khi người bị hại đã rút đơn tố cáo?

Chồng tôi đánh người gây thương tích 12%. Bị hại (25 tuổi) đã làm đơn tố giác và Cơ quan điều tra đã khởi tố chồng tôi về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 điều 134 BLHS 2015. Nếu bị hại đồng ý rút đơn yêu cầu khởi tố thì chồng tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Trường hợp vụ án bị đưa ra xét xử thì chồng tôi có thể được hưởng án treo không?

Cảm ơn Qúy Khách đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (FDVN). Đối với các yêu cầu tư vấn của Qúy Khách, sau khi nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, FDVN có một số trao đổi như sau:

Trả lời:

Cảm ơn Qúy Khách đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (FDVN). Đối với các yêu cầu tư vấn của Qúy Khách, sau khi nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan, FDVN có một số trao đổi như sau:

[1]. Quy định pháp luật về trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại?

Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:

  1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sựkhi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
  2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Chồng chị đã bị cơ quan điều tra khởi tố theo Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 nêu trên.

Trong trường hợp người bị hại đã yêu cầu khởi tố sau đó rút yêu cầu thì vụ án sẽ được đình chỉ giải quyết. Căn cứ vào vụ án đang ở tại giai đoạn tố tụng nào mà xác định cơ quan có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án:

            Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: 1. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

  1. a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;

Khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015:1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 282 BLTTHS 2015: 1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

  1. a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này;

[2]. Về điều kiện để được hưởng án treo

Hiện nay, các điều kiện để người bị phạt tù được hưởng án treo được quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo như sau:

  1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
  2. Có nhân thân tốt.

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

  1. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sựvà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  1. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

  1. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP này cũng quy định về những trường hợp không cho hưởng án treo:

  1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.
  3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
  4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
  5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
  6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, nếu chồng chị đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng án treo (Điều 2 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018) và không thuộc các trường hợp không cho hưởng án treo (Điều 3 Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP) thì Tòa án có thể xem xét cho chồng chị được hưởng án treo.

Trên đây là ý kiến tư vấn của FDVN liên quan đến yêu cầu tư vấn của Qúy Khách trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật. Hy vọng ý kiến tư vấn của FDVN sẽ hữu ích cho Qúy Khách.

Theo CVPL: Nguyễn Công Tín

                                                                                 Công ty Luật FDVN

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online